Đăng ký tham quan
Giải thích:
  • Tham quan Nhà Quốc hội
  • Giáo dục trải nghiệm về Quốc hội

Vị trí, vai trò của Quốc hội

Ở nước CHXHCN Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.

Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam. Vị trí đặc biệt này xuất pháp từ việc Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra.

CHỨC NĂNG CỦA QUỐC HỘI

-    Lập hiến, lập pháp

Làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp: các chủ thể có quyền đề nghị Quốc hội xem xét làm Hiến pháp hoặc sửa đổi Hiến pháp gồm: Chủ tịch nước; Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chính phủ; Ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội.

Dự thảo Hiến pháp được đưa ra lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội xem xét. Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định.

Làm luật, sửa đổi luật: Các chủ thể có quyền trình dự án luật gồm Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên Mặt trận, đại biểu Quốc hội.

Dự án luật trước khi trình ra Quốc hội được Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến và cuối cùng được Quốc hội xem xét, thông qua tại một hoặc một số kỳ họp Quốc hội. Dự án Luật được Quốc hội thông qua khi có quá nửa tổng số đại  biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua dự án Luật

-   Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước 

Quốc hội quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của nhà nước.

Quốc hội bầu, phê chuẩn, miễn nhiệm,  bãi nhiệm các chức danh quan trọng của bộ máy nhà nước; bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

Quốc hội quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia.

Quốc hội quyết định đại xá; quyết định trưng cầu ý dân.

Trong lĩnh vực đối ngoại, Quốc hội quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng , điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội.

-    Giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước

Hoạt động giám sát của Quốc hội bao gồm các hình thức: giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội và giám sát của các đại biểu Quốc hội.

Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội là việc Quốc hội xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Hoạt động giám sát tối cao được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân quy định 7 hình thức giám sát tối cao của Quốc hội, trong đó chất vấn và lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm là các hoạt động giám sát nổi bật.

Chất vấn là việc đại biểu Quốc hội nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của người bị chất vấn và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu.

Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trường và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán Nhà nước.

Tại mỗi một kỳ họp, Quốc hội thường dành khoảng 3-4 ngày để tiến hành chất vấn. Các phiên chất vấn được phát thanh, truyền hình trực tiếp đến cử tri cả nước theo dõi.

Xem xét báo cáo công tác là việc Quốc hội xem xét báo cáo công tác hàng năm hoặc báo cáo công tác nhiệm kỳ của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan khác do Quốc hội thành lập và các báo cáo khác theo quy định của pháp luật để đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập; trách nhiệm của cơ quan có báo cáo và người đứng đầu; thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập; trách nhiệm thi hành của cơ quan, cá nhân; trách nhiệm báo cáo kết quả khắc phục hạn chế, bất cập.

Giám sát chuyên đề là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá vấn đề hoặc hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Thông thường, hàng năm Quốc hội tổ chức 02 cuộc giám sát chuyên đề tập trung vào những vấn đề được cử tri quan tâm.